04 39978049

0912-611-034

Mạng xã hội:

Giỏ hàng (0)

A PHP Error was encountered

Severity: Warning

Message: date(): It is not safe to rely on the system's timezone settings. You are *required* to use the date.timezone setting or the date_default_timezone_set() function. In case you used any of those methods and you are still getting this warning, you most likely misspelled the timezone identifier. We selected the timezone 'UTC' for now, but please set date.timezone to select your timezone.

Filename: helpers/commons_helper.php

Line Number: 20

A PHP Error was encountered

Severity: Warning

Message: strtotime(): It is not safe to rely on the system's timezone settings. You are *required* to use the date.timezone setting or the date_default_timezone_set() function. In case you used any of those methods and you are still getting this warning, you most likely misspelled the timezone identifier. We selected the timezone 'UTC' for now, but please set date.timezone to select your timezone.

Filename: helpers/commons_helper.php

Line Number: 20

A PHP Error was encountered

Severity: Warning

Message: strtotime(): It is not safe to rely on the system's timezone settings. You are *required* to use the date.timezone setting or the date_default_timezone_set() function. In case you used any of those methods and you are still getting this warning, you most likely misspelled the timezone identifier. We selected the timezone 'UTC' for now, but please set date.timezone to select your timezone.

Filename: helpers/commons_helper.php

Line Number: 22

A PHP Error was encountered

Severity: Warning

Message: date(): It is not safe to rely on the system's timezone settings. You are *required* to use the date.timezone setting or the date_default_timezone_set() function. In case you used any of those methods and you are still getting this warning, you most likely misspelled the timezone identifier. We selected the timezone 'UTC' for now, but please set date.timezone to select your timezone.

Filename: helpers/commons_helper.php

Line Number: 24

A PHP Error was encountered

Severity: Warning

Message: date(): It is not safe to rely on the system's timezone settings. You are *required* to use the date.timezone setting or the date_default_timezone_set() function. In case you used any of those methods and you are still getting this warning, you most likely misspelled the timezone identifier. We selected the timezone 'UTC' for now, but please set date.timezone to select your timezone.

Filename: helpers/commons_helper.php

Line Number: 24

A PHP Error was encountered

Severity: Warning

Message: date(): It is not safe to rely on the system's timezone settings. You are *required* to use the date.timezone setting or the date_default_timezone_set() function. In case you used any of those methods and you are still getting this warning, you most likely misspelled the timezone identifier. We selected the timezone 'UTC' for now, but please set date.timezone to select your timezone.

Filename: helpers/commons_helper.php

Line Number: 33

A PHP Error was encountered

Severity: Warning

Message: date(): It is not safe to rely on the system's timezone settings. You are *required* to use the date.timezone setting or the date_default_timezone_set() function. In case you used any of those methods and you are still getting this warning, you most likely misspelled the timezone identifier. We selected the timezone 'UTC' for now, but please set date.timezone to select your timezone.

Filename: helpers/commons_helper.php

Line Number: 33

A PHP Error was encountered

Severity: Warning

Message: date(): It is not safe to rely on the system's timezone settings. You are *required* to use the date.timezone setting or the date_default_timezone_set() function. In case you used any of those methods and you are still getting this warning, you most likely misspelled the timezone identifier. We selected the timezone 'UTC' for now, but please set date.timezone to select your timezone.

Filename: helpers/commons_helper.php

Line Number: 38

Quai bị biến chứng viêm tinh hoàn và giải pháp

Tin đăng ngày : 09/07/16 | 5027 lượt xem

A – Bệnh quai bị

  1. Quai bị
    1. Là một bệnh cấp tính do virus.
    2. Viêm tuyến mang tai và viêm tinh hoàn được Hippocrates mô tả từ thế kỷ 5 TCN.
    3. Nguyên nhân Virus được Johnson và Goodpasture mô tả năm 1934
  2. Virusquai bị
    1. Paramyxovirus – một loại ARN virus.
    2. Bất hoạt nhanh chóng bởi các yếu tố hóa chất, nhiệt và tia cực tím.
  3. Bệnh sinh
    1. Virus truyền qua đường hô hấp
    2. Nhân lên ở hạch bạch huyết mũi họng và hạch vùng
    3. Sau 12-25 ngày, virus lan tràn trong máu 3-5 ngày và lan rộng
    4. Lan đến nhiều mô: Màng não, nước bọt, tụy, tinh hoàn, buồng trứng ...
  4. Lâm sàng
    1. Ủ bệnh 12-25 ngày, thường phát triển 16-18 ngày sau tiếp xúc.
    2. Dấu hiệu báo trước không đặc hiệu của nhiễm virus chung: đau cơ, mệt mỏi, đau đầu, sốt nhẹ
    3. Viêm mang tai: thường gặp nhất, tùy thuộc độ tuổi tỷ lệ 9-94%. 15-27% không có triệu chứng.
  5. Biến chứng
    1. Viêm tinh hoàn
    2. Viêm buồng trứng
    3. Viêm màng não vô khuẩn
    4. Viêm não
    5. Viêm tụy 3.5% tiền vaccin
    6. Điếc thoáng qua 1/20000 tiền vaccin
    7. Tử vong
  6. Xét nghiệm chẩn đoán
    1. rRT-PCR: phân biệt các chủng quai bị.
    2. Nuôi cấy
    3. Huyết thanh học : Chú ý âm tính giả trong đã tiêm phòng.
    4. Bệnh phẩm: dịch ống tuyến mang tai, ống dẫn tuyến nước bọt khác, cổ họng, nước tiểu, dịch não tủy. Thời gian lý tưởng thu trong vòng 3 ngày và không quá 8 ngày sau khởi phát viêm tuyến mang tai.
  7. Dịch tễ học
    1. Xuất hiện trên toàn thế giới
    2. Ổ chứa: quai bị là bệnh của con người. Nhiễm virus không triệu chứng cũng có thể truyền virus
    3. Đường truyền: đường không khí, trực tiếp qua nước bọt hoặc bụi.
    4. Mùa dịch: Đỉnh vào cuối đông và xuân
    5. Thời gian lây: Vài ngày trước và sau viêm tuyến mang tai
  8. Xu hướng ở Hoa Kỳ
    1. Giảm dần sau khi có vaccin (biểu đồ)
  9. Vaccin quai bị
    1. Đặc điểm ; Virus sống giảm độc lực, dạng kết hợp MMR: Sởi, quai bị, rubella/ MMRV(sởi, quai bị, rubella, thủy đậu).
    2. Miễn dịch: 1 liều 78%(49-92%), 2 liều 88% (66-95%)
    3. Thời gian miễn dịch: Suốt đời
    4. Chỉ định:
      1. Một liều: trẻ >12 tháng/ người lớn không nguy cơ tiếp xúc cao.
      2. Liều thứ 2 tuổi đi học và người lớn có nguy cơ cao tiếp xúc. Tiêm chủng sau phơi nhiễm không có hại, có thể ngăn chặn bệnh tật sau này.
    5. Chống chỉ định:
      1. Quá mẫn Neomycin/Dị ứng bất kỳ thành phần của kháng sinh/ Mang thai/ suy giảm hoặc ức chế miễn dịch/ bệnh cấp tính trung bình hoặc nặng/ tiếp nhận máu chứa kháng thể/ tiền sử bản thân hoặc gia đình co giật bất kể nguyên nhân.
    6. MMR tác dụng phụ:
      1. Sốt, phát ban, viêm tinh hoàn ít gặp/ viêm tuyến mang tai hiếm gặp/ phản ứng thần kinh trung ương 1/800000 liều.
    7. So sánh thời kỳ tiền vaccin và hậu vaccin (Hoa Kỳ)

Biểu hiện/ biến chứng

Thời kỳ tiền vaccin (Thế chiến I)

Thời kỳ hậu vaccin (2000s)

Tỷ lệ mắc

55.8/1000

<500/300000000

Viêm tinh hoàn (nam sau dậy thì)

11.6 – 66%

3.3 – 10%

Viêm buồng trứng (nữ sau dậy thì)

5%

<1% - 1%

Tử vong/ quai bị

2/10.000

0

  1. Việt Nam đang đứng ở đâu: Bản đồ vaccin Quai bị của WHO: Việt Nam nằm trong các nước không tiêm chủng/ không có dữ liệu tiêm chủng.

B – Viêm tinh hoàn quai bị

Đại cương

  1. Hiếm gặp ở trẻ dưới 10 tuổi
  2. Biến chứng thường gặp nhất nam giới sau dậy thì: 20%-30% các trượng hợp quai bị, 10%-30% là hai bên
  3. Thường xảy ra sau viêm mang tai 1 đến 2 tuần
  4. 30-50% tinh hoàn bị viêm sẽ teo: những ngày đầu virus tấn công các tuyến tinh hoàn, dẫn đến viêm nhu mô, phân ly các ống sinh tinh và bạch cầu xâm nhập khoảng kẽ. Lớp cân trắng tạo một rào cản chống phù nề, và gia tăng áp lực trong tinh hoàn dẫn đến teo tinh hoàn.
  5. Viêm tinh hoàn quai bị lên tế bào Leydig: Nồng độ testosterone thấp, LH cao và phản ứng kích thích LH (LHRH) tăng trong giai đoạn cấp tính. Nồng độ testosterone cơ bản về bình thường sau vài tháng, trong khi FSH và LH vẫn tăng đáng kể sau 10-12 tháng.
  6. Liên hệ giữa viêm tinh hoàn quai bị và kháng thể kháng tinh trùng chưa rõ, mặc dù kháng thể bị nghi ngờ làm giảm khả năng sinh sản. Kalaydjiev đã chứng minh tỷ lệ mắc và mức độ kháng thể chống tinh trùng trong huyết thanh của người bệnh viêm tinh hoàn quai bị là thấp, và không ủng hộ giả thuyết tăng cường một miễn dịch dịch thể chống tinh trùng.
  7. Viêm tinh hoàn quai bị ít khi dẫn đến vô sinh nhưng nó góp phần dẫn đến hiếm muộn. Nó có thể dẫn đến Oligospermia, azoospermia, asthenospermia. Bị một bên có thể làm giảm đáng kể, nhưng thường thoáng qua về số lượng tinh trùng, di động và hình thái tinh trùng. Suy giảm khả năng sinh sản ước tính ở khoảng 13% bệnh nhân, trong khi 30-87% bệnh nhân viêm tinh hoàn quai bị 2 bên vô sinh.

Điều trị

  1. Điều trị hỗ trợ (giường nghỉ ngơi, hỗ trợ bìu, và việc sử dụng các thuốc chống viêm không steroid).Chúng tôi đã tìm thấy hai nghiên cứu mà được điều trị hỗ trợ kháng sinh phổ rộng. Họ cho rằng nhiễm trùng có thể do vi khuẩn của các mô tinh hoàn phù nề.
  2. Điều trị steroid giúp giảm đau và phù nề, nhưng nó không làm thay đổi quá trình lâm sàng của bệnh hoặc ngăn ngừa các biến chứng.Lợi ích phải được cân nhắc với bản chất tự giới hạn của bệnh viêm tinh hoàn quai bị và khả năng các tác dụng phụ của điều trị steroid.
  3. Tác giả Adamopoulosthấy rằng corticoid có thể làm giảm đau và phù nề, nhưng nó gây ra nồng độ testosterone giảm và nồng độ FSH và LH tăng. Smith và Bishirmô tả việc sử dụng liều cao steroid để giảm đau, nhưng họ có rất ít tác dụng trên kết quả tại chỗ và diễn biến lâm sàng tiếp theo của bệnh. Chuỗi nhỏ của Bertschat thấy rằng những bệnh nhân dùng corticosteroid cho thấy tinh dịch tốt hơn các thông số tham khảo khi kiểm tra theo dõi, mặc dù nó không có ý nghĩa.
  4. Interferon ức chế sự nhân lên của virus sao chép gây ra, do vậy dự kiến điều trị interferon toàn thân có thể ngăn chặn sự phát triển của teo tinh hoàn và vô sinh.Erpenbachtuyên bố vào năm 1991 đã ngăn chặn tổn thương tinh hoàn và vô sinh ở bốn bệnh nhân viêm tinh hoàn quai bị hai bên bằng cách sử dụng interferon-α 2B toàn thân trong bảy ngày. Những trường hợp với hiếm muộn nghiêm trọng trước khi điều trị cải thiện về Normospermia và vẫn có khả năng sinh sản trong khoảng thời gian theo dõi từ 12-20 tháng. Tác giả Kunghiên cứu ảnh hưởng của interferon-α 2B trên 13 bệnh nhân viêm tinh hoàn quai bị so với tám bệnh nhân bị nhiễm bệnh không được điều trị. Không có bệnh nhân trong nhóm điều trị phát triển teo tinh hoàn, trái ngược với ba trong nhóm chứng. Số lượng tinh trùng được cải thiện trong tất cả các bệnh nhân được điều trị bằng interferon, nhưng số lượng tinh trùng thấp duy trì ở bốn bệnh nhân từ nhóm chứng. Tinh trùng bất thường hình thái tồn tại ở cả hai nhóm bệnh nhân. Yeniyolnghiên cứu tác dụng của interferon-α 2B trên 18 bệnh nhân viêm tinh hoàn quai bị. Bệnh nhân được đánh giá bằng sinh thiết tinh hoàn sau một năm điều trị. Sinh thiết cho thấy teo tất cả các ống sinh tinh có 7 bệnh nhân (39%), teo 10% các ống ở 3 bệnh nhân (16%), và không có thay đổi mô học rõ ràng, ngoại trừ dừng sinh tinh ở 8 bệnh nhân (45%). Họ kết luận rằng việc điều trị toàn thân với interferon là không hoàn toàn hiệu quả trong việc ngăn ngừa teo tinh hoàn viêm do quai bị.
  5. Trong quá khứ, phẫu thuật rạch sớm cân trắng đã được thử, nhưng thất bại trong việc ngăn chặn sự phát triển của teo tinh hoàn.Dịch quai bị bùng phát chỉ thấy lác đác, do đó đánh giá điều trị bất kỳ là khó khăn vì không thể có đủ số bệnh nhân cho các nghiên cứu có kiểm soát.
  6. Khi không còn tinh trùng (Azoospermia) xảy ra như hậu quả của bệnh viêm tinh hoàn quai bị, nó không đồng nghĩa với sự vắng mặt hoàn toàn của tinh trùng trong tinh hoàn.Sinh thiết tinh hoàn thường mang lại rất ít tinh trùng. Sự phát triển của tiêm tinh trùng vào bào tương đã thay đổi đáng kể trong điều trị hiếm muộn nam. Thụ tinh và mang thai có thể đạt được sau khi tìm được một vài tinh trùng.

Kết luận

  1. Dịch quai bị bùng phát nhỏ lẻ và các biến chứng của nó tiếp tục được xác định, và quai bị vẫn còn là một tình trạng lâm sàng quan trọng. Có những lo ngại lớn về vô sinh về sau ở những bệnh nhân này. Tiêm chủng là chính sách tốt nhất để tránh các biến chứng bệnh quai bị liên quan đến. Điều trị vẫn còn dè dặt.

C – Giải pháp

Phòng bệnh cấp 1:

  1. Tiêm phòng quai bị, thuộc mũi sởi, quai bị, rubella (MMR) hoặc sởi, quai bị, rubella, ho gà (MMRV).
  2. Rèn luyện sức khỏe, sinh hoạt điều độ nâng cao sức đề kháng.
  3. Hạn chế tiếp xúc với người bị quai bị, đặc biệt trong những ngày đầu sốt hoặc sưng hàm. Đeo khẩu trang ở những nơi đông người, có nguy cơ cao: bệnh viện, trường học nơi có dịch ...

Phòng bệnh cấp 2:

  1. Phát hiện sưng hàm hoặc sốt khi đang có dịch đề nghị đến các viện chuyên khoa bệnh Nhiệt đới, chẩn đoán và điều trị sớm theo phác đồ, hạn chế các biến chứng trong đó có viêm tinh hoàn.

Phòng bệnh cấp 3:

  1. Phát hiện viêm tinh hoàn do quai bị, một hoặc hai bên, đề nghị điều trị tại các viện chuyên khoa bệnh Nhiệt đới.
  2. Ngay sau khi ổn định chuyển chuyên khoa Nam học theo dõi chất lượng tinh dịch đồ để có hướng điều trị theo chuyên khoa. Nếu cần thiết phải trữ đông tinh trùng, tránh trường hợp vô sinh sau viêm tinh hoàn quai bị.


Bs. Bùi Cảnh Vin. Tổng hợp từ CDC, WHO, JRSM